PHÂN BIỆT GIẤY CHỨNG NHẬN ĐẦU TƯ VÀ GIẤY ĐĂNG KÝ KINH DOANH

10:10 - Sunday, 13/01/2019

Giấy chứng nhận đầu tư hay gọi đầy đủ là “Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư” là văn bản, bản điện tử ghi nhận thông tin đăng ký của nhà đầu tư về dự án (theo quy định tại Khoản 6 Điều 3 Luật Đầu tư 2014). Dù không phải là vấn đề mới, nhưng vẫn còn nhiều người nhầm lẫn khi phân biệt Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và Giấy đăng ký kinh doanh.

Theo quy định của Luật Đầu tư 2005 (đã hết hiệu lực) thì khi nhà đầu tư nước ngoài thành lập dự án kinh doanh tại Việt Nam có thành lập tổ chức kinh tế thì sẽ phải xin cấp Giấy chứng nhận đầu tư và đồng thời nó là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Tức là chỉ được cấp một giấy phép có thể hiên cả nội dung về dự án đầu tư và nội dung về doanh nghiệp đăng ký kinh doanh.

Nhưng đến thời điểm hiện nay thì theo quy định của Luật Đầu tư hiện hành thì đã tách bạch:

- Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (IRC) chỉ ghi nhận về thông tin đăng ký của nhà đầu tư về dự án đầu tư. Bao gồm các nội dung: Mã số dự án; Tên, địa chỉ của nhà đầu tư; Tên dự án đầu tư; Địa điểm thực hiện dự án đầu tư; Diện tích sử dụng đất; Mục tiêu đầu tư, quy mô của dự án đầu tư; Vốn đầu tư của dự án; Thời hạn hoạt động của dự án; Tiến độ thực hiện; Ưu đã và các điều kiện khác đối với dự án và nhà đầu tư (nếu có),…

- Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (ERC): là văn bản điện tử mà cơ quan đăng ký kinh doanh cấp cho doanh nghiệp ghi nhận nội dung đăng ký doanh nghiệp. Bao gồm: Tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp (đồng thời là mã số thuế); Địa chỉ trụ sở chính; Thông tin người đại diện theo pháp luật; Vốn điều lệ.

Như vậy, có thể thấy sự khác nhau cơ bản của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh chính là về nội dung đăng ký. Quy định của pháp luật hiện hành đã tách dự án đầu tư riêng và thành lập doanh nghiệp riêng. Đối với những dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập tổ chức kinh tế sẽ chỉ cần xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Sở kế hoạch đầu tư là cơ quan có thẩm quyền cấp phép đối với Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, Giấy phép đăng ký kinh doanh; Tuy nhiên có sự phân chia cơ quan cấp phép là Cơ quan đăng ký đầu tư và Cơ quan đăng ký kinh doanh.

Lưu ý:

Đối với những dự án đầu tư được thành lập theo quy định của Luật Đầu tư 2005 vẫn tiến hành hoạt động đầu tư, kinh doanh bình thường. Tuy nhiên, nếu nhà đầu tư có bất kỳ thay đổi gì liên quan đến dự án đầu tư phải tiến hành thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư thì sẽ phải tiến hành thủ tục điều chỉnh dự án kết hợp với tách Giấy chứng nhận đầu tư thành Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Các hình thức đầu tư tại Việt Nam

Nhà đầu tư muốn thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam có thể lựa chọn một trong các hình thức đầu tư như sau:

Thứ nhất, đầu tư thành lập tổ chức kinh tế. Khi đó nhà đầu tư sẽ phải có dự án đầu tư và thành lập tổ chức kinh tế theo các bước sau:

Bước 1: Xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đối với trường hợp dự án đầu tư phải xin quyết định chủ trương đầu tư thì trước khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Cơ quan đăng ký đầu tư:

+ Là Ban quản lý các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, khu kinh tế đối với những khu nêu trên đã thành lập Ban quản lý.

+ Là phòng đăng ký đầu tư thuộc Sở kế hoạch đầu tư nếu dự án không thuộc thẩm quyền cấp phép nêu trên.

Bước 2: Xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch đầu tư nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.

 Thứ hai, Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế đã được thành lập tại Việt Nam. Nếu đầu tư thông qua hình thức này thì nhà đầu tư nước ngoài sẽ thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong các trường hợp sau:

+  Góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài.

+ Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến trường hợp nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% trở lên vốn điều lệ của doanh nghiệp.

Đối với những trường hợp  góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp không thuộc các trường hợp được quy định tại Điều 46 Nghị định 118/2015/NĐ-CP thì sẽ tiến hành thủ tục tục đăng ký thay đổi thành viê, cổ đông tại Phòng Đăng ký kinh doanh của Sở kế hoạch đầu tư tại tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính kinh doanh.

Thứ ba, đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập tổ chức kinh tế. Trong trường hợp này nhà đầu tư chỉ cần xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Trên đây là tư vấn của Luật Trung Tín về phân biệt giấy chứng nhận đầu tư và giấy đăng ký kinh doanh.

Mọi thông tin liên quan đến thủ tục đăng ký đầu tư, điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư,… quý khách hàng vui lòng liên hệ với Luật Trung Tín qua:

Hotline: 0989 232 568

Email: luattrungtin@gmail.com

Trân trọng!